Luật ngoại tình – Ngoại tình có phải là tội ?

 Luật ngoại tình – Ngoại tình có phải là tội?

Thật ra, tại Việt Nam không có bộ luật hoặc luật nào được gọi là luật ngoại tình, tuy nhiên “tội”này được quy định tại nhiều văn bản khác nhau với các định nghĩa, mức phạt và hình phạt cụ thể mà tôi sẽ trình bày trong khuôn khổ bài viết này.

  • Theo khía cạnh đạo đức, nhìn chung ở Việt Nam, ngoại tình được xem là hành vi vi phạm chuẩn mực xã hội và đáng bị lên án.
  • Theo khía cạnh luật pháp, các văn bản luật cũng thể hiện được một phần việc điều chỉnh hạn chế và không khuyến khích hành vi ngoại tình của Nhà nước Việt Nam.

Ở đây, Thám tử KL xin không bàn luận về mức độ hợp lý của các văn bản pháp luật về chủ đề trên mà chúng tôi chỉ trình bày các nội dung sau:

  • Chi tiết nội dung các quy định về “ngoại tình”.
  • Cách hiểu và ứng dụng các văn bản pháp luật về “ngoại tình” trong thực tế.

“Ngoại tình” được xem là “tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”

Theo Bộ luật hình sự năm 1999

Điều 147 – quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

“Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

  1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ, chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”.
  2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Từ ngày 01/07/2016, Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ thay thế Bộ luật hình sự năm 1999.

Điều 182 – quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

“Những hậu quả mà hành vi ngoại tình gây ra được quy định cụ thể, thay thế cho hậu quả chung chung được quy định trong Bộ luật cũ”

“Điều 182: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

  1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm:
    1. Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
    2. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    1. Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
    2. Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Khái niệm “chung sống như vợ chồng” đã được quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự cũ và được Điều 182 Bộ luật mới giữ nguyên.

Khái niệm này đã được giải thích cụ thể tại mục 3.1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001:

“Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”.

Như vậy, không phải cứ đi ngoại tình là sẽ bị phạt tù.

Chỉ phạt tù những người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc ngược lại, có hành vi “kết hôn” hoặc “chung sống như vợ chồng” với người khác và những hành vi này đã gây ra một trong các hậu quả:

  1. Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn (thường là có con chung; người phụ nữ có hành vi tranh cướp chồng; người chồng đánh đập, ngược đãi vợ con mình; lấy tài sản chung của gia đình để mua sắm, chu cấp cho “bên kia”; nghe theo lời “vợ nhỏ” gây chia rẽ hạnh phúc, về thúc ép xin ly hôn vợ…)
  2. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với trường hợp người có hành vi ngoại tình nhưng hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo quy định của Điều 182 BLHS 2015 thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013.

 “Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013

  1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
  1. Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
  2. Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
  3. Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ…”

Không phải cứ ngoại tình là sẽ bị phạt tù

Giữa luật và thực tế sẽ có một khoản cách và đôi khi gây khó hiểu cho người đọc, thám tử KL xin được tóm tắt nội dung bài viết như sau:

Có 3 tình huống dẫn đến hậu quả là bị cải tạo hoặc bị giam giữ (ngồi tù)

Trường hợp 1:

Chung sống như một gia đình thường là có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

Hành vi chung sống chung như vợ chồng hoặc kết hôn với người khác

⇒ Phạt hành chính 1.000.000đ – 3.000.000 đ

Tái phạm hành vi chung sống chung như vợ chồng hoặc kết hôn với người khác.

⇒ Cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm

Trường hợp 2:

Hành vi chung sống chung như vợ chồng hoặc kết hôn với người khác + Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn (thường là có con chung, người phụ nữ có hành vi tranh cướp chồng, người chồng đánh đập, ngược đãi vợ con mình, lấy tài sản chung của gia đình để mua sắm, chu cấp cho “bên kia”, nghe theo lời “vợ nhỏ” gây chia rẽ hạnh phúc, về thúc ép xin ly hôn vợ…)

⇒ Cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

Trường hợp 3:

Hành vi chung sống chung như vợ chồng hoặc kết hôn với người khác + Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát

⇒ Phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

 
Skip to toolbar